Lời Chúa CN

TÌM HIỂU CỰU ƯỚC CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN NĂM A - 18/10/2020

BÀI ĐỌC 1 (Is 45, 1.4-6)

 

"Ta đã cầm tay hữu của Ky-rô để bắt các dân suy phục trước mặt nó."

 

Trích sách Tiên tri I-sa-i-a:

 

1 ĐỨC CHÚA phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô
- Ta đã cầm lấy tay phải nó,
để bắt các dân tộc suy phục nó,
Ta tước khí giới của các vua,
mở toang các cửa thành trước mặt nó,
khiến các cổng không còn đóng kín nữa.

4 Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp,
và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en,
Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu,
dù ngươi không biết Ta.

5 Ta là ĐỨC CHÚA, không còn chúa nào khác;
chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.
Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,

6 để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng
chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.
Ta là ĐỨC CHÚA, không còn chúa nào khác.

 

Không phải lịch sử lúc nào cũng tái diễn! Thì đây là chuyện lạ lùng, đến nỗi một ngôn sứ Do Thái nói rằng ông vua xứ Ba-tư là đấng mê-si-a! Thật là thời buổi đã đổi thay …

Lúc vị Tiên tri viết bài này, dân Do Thái đang bị đày bên Ba-by-lon đã từ gần năm mươi năm qua, từ năm 587, quân của Na-bu-cô-đô-nô-so đã đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, cướp bóc, tàn phá Đền Thờ và đem những người sống sót còn khỏe mạnh về làm tù chiến tranh. Và đây, trong khắp vùng này có tiếng loan truyền một lãnh tụ mới trên đời, chiến thắng khắp nơi, vừa xuất hiện, đó là Ky-rô vua xứ Ba-tư. Tin đồn này được đón nhận như một tin mừng đối với người Do Thái bị đày ở Ba-by-lon: Mọi người cảm nhận trước, như đây là một hoàng đế mới sẽ chiến thắng toàn vùng này, không có gì cản được.

Mọi người đều biết - vì đây là một việc bất thường nên gây ấn tượng cho đám đông - là khác với các lãnh tụ đương thời, vị này có cách cai trị rất nhân bản: Ngài tha chết cho kẻ bại trận, không tàn phá, không cướp bóc, không bắt buộc di dân. Trong các xứ ông chiến thắng, ông gặp những dân tộc bị đày do những kẻ chiến thắng trước (đó là trường hợp dân Do Thái, nạn nhân của vua Na-bu-cô-đô-nô-so). Mỗi lần như thế ông thả họ trở về, hoàn lại của cải bị cướp do những kẻ chiến thắng trước và còn cho điều kiện để xây dựng lại đất nước họ. Hẳn ông hiểu một hoàng đế nên là một người đứng đầu một dân tộc hạnh phúc.

Trong bầu khí ấy, vị ngôn sứ xướng lên một tiên tri, nghe như một lời tuyên xưng đức tin: Ngài bắt đầu bằng câu sau đây: «ĐỨC CHÚA phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô» (c1) Trên thực tế, ngài không nói trực tiếp với vua Ky-rô, vua không khi nào đọc sách một tiên tri Do thái, ít ai biết tới. Rất có thể, sứ điệp Tiên tri I-sa-i-a là để cho dân bị lưu đày nghe hầu mang lại hi vọng cho họ, niềm hi vọng dựa trên hai xác tín. Thứ nhất, Thiên Chúa trung tín với Giao Ước, Ngài không bỏ rơi dân Ngài chọn, đó là ý nghĩa câu: «Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en» (c4). Xin đừng quên, câu này được nói lên đúng lúc mọi người có lý do nghi ngờ như thế. Sở dĩ Ít-ra-en phải rơi thấp đến mức này, mất hết, không những độc lập chính trị, mà còn tệ hơn thế nữa, mất mọi tự do, đất đai, Đền thờ…nhiều người tự hỏi như thế. Chính cho những kẻ ấy, Tiên tri I-sa-i-a hết sức mạnh dạn tuyên bố: «Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en…» ngài không nói thêm, nhưng Thánh Phao-lô sau này nói: «Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình» (2Tm2, 13). Đấy là điều thứ nhất Tiên tri I-sa-i-a xác tín.

Điều thứ hai, Chúa luôn làm chủ mọi sự kiện: «Ta là ĐỨC CHÚA, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.» (Is45, 5) Nên hiểu, chính Ky-rô, người vua ngọai giáo vĩ đại kia cũng nằm trong tay Ta. Các từ ngữ «xức dầu; cầm lấy tay phải nó; mở toang các cửa thành» là những ngụ ý, nói lên các nghi lễ tấn phong vua, vị tân vương nhận được tước là con Thiên Chúa, và sau đó được xức dầu; trong khi ấy, vua thuộc về trong tay Thiên Chúa. Để tiến vào phòng có ngai vua, các cánh cửa được mở ra, tượng trưng cho các cửa thành, quân địch cũng sẽ phải nhường cho vua qua. Vị Tiên tri thêm nhiều điều ám chỉ đến nghi thức phong vương vua Ít-ra-en như chính Chúa đã chọn và phong vương cho Ky-rô để phục vụ Ngài. Nhưng chính Thiên Chúa luôn giữ quyền thủ xướng.

Mặc dù bề ngoài như thế, bài này không phải một bài ca ngợi vinh quang vua Ky-rô mà còn có thể nói, để đặt Ky-rô đúng chỗ đứng của ông !. Vì thờ lạy bụt thần là một cám dỗ thật sự trong môi trường Ba-by-lon lúc bấy giờ. Cũng trong chương 45 này, Tiên tri I-sa-i-a cảnh báo vể thờ lạy bụt thần và không ngừng lặp lại Chúa là Thiên Chúa Duy Nhất. Chính lúc Ky-rô hết bay nhảy từ chiến thắng này đến chiến thắng khác, Tiên tri I-sa-i-a nhắc cho dân Do Thái rằng Chúa là Thiên Chúa thật sự. Chính Ky-rô ở trong tay Ngài: Chúa biết cách biến chiến thắng vị vua dân ngoại này có lợi cho dân Chúa chọn. Và vị vua ngoại ấy, chính ông cũng không ý thức, vô tình phục vụ cho dự án Thiên Chúa. Tiên tri I-sa-i-a nhấn mạnh: «Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta…Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ » (Is45, 4, 5b). Thậm chí, câu này rất quan trọng được viết như cho dân Chúa chọn, thật ra họ ở trong tình trạng có vẻ tuyệt vọng. Nhưng đấy mới chính là lòng tin của vị ngôn sứ.

Niềm hi vọng dựa trên hai xác tín, có thể tóm tắt như sau: Bởi vì Chúa vẫn là chủ nhân, Ngài không quên anh em, vậy hãy can đảm lên! Từ bị chiếm đóng, từ bị chà đạp dưới gót giày ngoại bang, Chúa có cách làm ra sự lành. Không có một thế lực loài người nào có thể chống lại Thiên Chúa. Sau này Thánh Phao-lô nói: «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người,» tức là những ai cậy trông nơi Người (Rm8, 28). Chúng ta biết sau đó chuyện xảy ra như thế nào: Tương lai xác chứng Tiên tri I-sa-i-a có lý. Thật vật, Ky-rô đánh chiếm Ba-by-lon năm 539 trước CN. Ngay từ năm 538 ông cho dân Do Thái trở về Giê-ru-sa-lem, được hoàn lại của cải bị cướp bởi quân của Na-bu-cô-đô-nô-so và ban cho một số tiền trợ cấp xây lại Đền Giê-ru-sa-lem.

Điều lưu ý cuối: Ky-rô được gọi là «mê-si-a» bởi vì ông được Chúa chọn để giải phóng dân Ngài. Mặc dù ông không phải là vua, hay ngôn sứ Ít-ra-en, cũng không phải là thượng tế; nhưng điều quan trọng là công trình của ông. Từ đó có thể suy luận rằng, mỗi lần một ai hành động trong hướng giải thoát con người thật sự, người ấy hoàn tất công trình Thiên Chúa. Đây là một mặc khải quan trọng của Thánh Kinh. Dĩ nhiên phải đồng ý với nhau thế nào là «giải thoát».

Thật vậy, trong những người nghe Tiên tri I-sa-i-a, có người cho rằng lời ngài quá táo bạo. Điều này chúng ta có một phản biện tuyệt vời chính từ người ngôn sứ (vài hàng sau chương 45 của chúng ta), đây là lời của Chúa: «Ngươi dám chất vấn Ta về những gì xảy đến cho con cái Ta, ngươi dám truyền cho Ta phải làm gì cho tác phẩm của Ta!» (Is45, 15)

***

 

THÁNH VỊNH (Tv 95, 1.3-10)

 

Đáp: «Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế và vinh quang»

 

1 Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới, hát lên mừng CHÚA, hỡi toàn thể địa cầu!

2 Hát lên mừng CHÚA, chúc tụng Thánh Danh! Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,

3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người.

4 CHÚA thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần,

5 vì chư thần các nước thảy đều hư ảo, còn ĐỨC CHÚA, Người sáng tạo trời cao.

6 Trước thiên nhan, toàn uy phong rực rỡ, trong thánh điện, đầy dũng lực huy hoàng.

7 Hãy dâng CHÚA, hỡi các dân các nước, dâng CHÚA quyền lực và vinh quang,

8 hãy dâng CHÚA vinh quang xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa,

9 và thờ lạy CHÚA uy nghiêm thánh thiện,  toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan.

10 Hãy nói với chư dân: CHÚA là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng

11 Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật,

12 ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ. Hỡi cây cối rừng xanh,

13 hãy reo mừng trước tôn nhan CHÚA, vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian.
Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người.

 

Thật đáng tiếc, nếu chúng ta đọc bài Thánh vịnh 95 (96) tuyệt vời này chỉ vài câu như trong  phụng vụ Thánh Lễ hôm nay. Vì thế, chúng tôi chép toàn bài nơi đây. Có một lực rung động khó tả, phấn chấn xuất phát từ những câu này. Tại sao rung động? Tại sao thế, khi hát bài Thánh vịnh này trong Đền Giê-ru-sa-lem trong một giai đoạn không có gì hứng thú! Nhưng vì đức tin làm cho dân tộc này rung động - đúng hơn là lòng cậy trông - cậy trông là niềm vui trong đức tin…Lòng cậy trông làm cho có thể khẳng định vững vàng những gì ta chưa đạt được.

Vì lẽ mọi người sống trước hạn: Bài Thánh vịnh này dẫn chúng ngay đến ngày cánh chung, ngày được chúc phúc, ngày ấy mọi dân tộc không trừ một ai sẽ nhận ra Thiên Chúa là Chúa duy nhất. ngày rốt cục toàn nhân loại đặt mọi tin tưởng chỉ nơi Ngài, Chúng ta hãy tưởng tượng cảnh ấy qua bài Thánh vịnh này.

Chúng ta đang ở trong thành Giê-ru-sa-lem, chính xác là trong Đền Thánh. Tất cả các dân tộc, mọi quốc gia, mọi chủng tộc chen nhau vào gần Đền Thánh, quảng trường chen chúc người là người, bậc thang lên Đền đen kịt cả người. Thành Giê-ru-sa-lem không còn đủ chỗ nữa…nhìn  mút tầm mắt còn thấy đám đông đổ về …từ khắp nơi, từ tận cùng cõi đất. Và tất cả đám đông trùng trùng điệp điệp ấy hát lớn lên, như một bài hòa tấu. Họ hát những gì? «Thiên Chúa hiển trị» tiếng tán tụng vang lên khắp bầu trời, tuyệt vời, vĩ đại…Lời hoan hô như trong mỗi lễ đăng quang một tân vương, nhưng lần này không phải dân tộc Ít-ra-en tung hô một vua trái đất, nhưng là toàn nhân loại tung hô vua vũ trụ: «CHÚA thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần» (c4) (những từ ngữ này thường dành cho hàng vua chúa)

Thật ra, còn lớn hơn cả nhân loại. Toàn thể địa cầu rung chuyển. Và đây, tất cả đại dương cùng hòa vào bài nhạc hòa tấu: dường như bể cả gầm lên. Và cây cối cũng nhập vào buổi lễ, cây cối nhảy múa. Có ai thấy cây múa bao giờ? Thế mà ngày ấy cây cũng nhảy múa! Dĩ nhiên, nếu nghĩ cho thấu, điều này bình thường thôi! Biển cả ít dại khờ hơn con người! Chúng biết ai làm ra chúng, ai là Đấng tạo hoá! Chúng gầm lên cho Ngài, chúng tán dương theo cách của chúng. Cây cối trong rừng cũng ít dại khờ hơn con người: chúng biết nhận ra Đấng tạo hóa: giữa cả đám bụt thần, những vị chúa giả, không thể nào nhầm lẫn được, cây cối không để mình bị lừa.

Con người thì để mình bị ru ngủ thật lâu. Chỉ cần nhớ lại bài của Tiên tri I-sa-i-a về vua Ky-rô (bài đọc 1) và lời ngài nhấn mạnh: «chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là ĐỨC CHÚA, không còn chúa nào khác.» (Is45, 5) - Điều này minh chứng rằng thời Ngôn sứ I-sa-i-a, thờ lạy bụt thần, dưới hình thức này hay hình thức khác không xa lạ gì! - Chúng ta nhận ra trong bài này thỉnh thoảng một mũi nhọn chống lại thờ lạy bụt thần. «chư thần các nước thảy đều hư ảo» (c5). Thật khó tin, con người phải mất bao nhiêu thời gian mới nhận ra Đấng Tạo Hóa, Người Cha của họ…phải lặp lại hằng trăm lần điều hiển nhiên là Thiên Chúa «khả tôn khả uý hơn chư thần»; và Ngài là «ĐỨC CHÚA, Người sáng tạo trời cao» (c5) (ngụ ý nói không phải là một ai khác 

Nhưng lần này, mọi sự đã đến! Mọi người đến Giê-ru-sa-lem để ngợi khen Thiên Chúa, bởi vì rốt cục mọi người đã nghe Tin Mừng; và sở dĩ mọi người được nghe vì Tin Mừng được tung hô vào tai họ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác! Thật vậy! Tin Mừng được «kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển» (c5) ngày qua ngày, Ít-ra-en thuật lại cho mọi nước hay những kỳ công của Người, những điều kỳ diệu - nên hiểu là kỳ công giải thoát liên tục của Chúa - ngày qua ngày Ít-ra-en làm chứng cho Chúa, trước tiên Ngài đã giải thoát khỏi Ai-cập, và sau đó khỏi mọi hình thức nô lệ, và tồi tệ hơn hết là lầm tưởng vế Thiên Chúa, đặt niềm cậy trông vào những giá trị ảo, những thần thánh giả tạo chỉ đưa đến thất vọng đó là bụt thần…

Ít-ra-en có một cơ may vô cùng lớn lao, một vinh dự vô ngần, một niềm hạnh phúc được mặc khải và được trao sứ mạng nói lên Chúa là Thiên Chúa chúng ta, Đấng Vô Biên ấy là Chúa, là Thiên Chúa Duy Nhất. Như trong Kinh Tin Kính Ít-ra-en «Ít-ra-en hãy nghe đây, Thiên Chúa ngươi là Thiên Chúa Duy Nhất». Đó là mầu nhiệm sứ mạng dân tộc Ít-ra-en mà chúng ta không ngơi ngạc nhiên thán phục. Như sách Đệ Nhị luật nói: «Chính anh (em) đã được cho thấy những điều đó, để biết rằng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa và ngoài Người ra không có thần nào khác nữa» (Đnl4, 35). Nhưng dân được Chúa hứa không bao giờ quên, sở dĩ họ được mặc khải, là để chính họ phải mặc khải cho nhân loại.   

Và rốt cục, Tin Mừng được nghe cho đến tận cùng trái đất…và mọi người chen nhau đi đến nhà Cha. Chúng ta đang trong tâm trạng kẻ sống trước sự kiện! Trong khi chờ đợi giấc mơ này trở nên hiện thực, dân tộc Ít-ra-en hát vang lên bài Thánh vịnh này để canh tân đức tin và lòng cậy trông của họ, để múc lấy mãnh lực thực hiện sứ mạng mang tin mừng đến muôn dân.

***

 

 Tác giả: Marie-Noëlle Thabut                       
Nguồn: Sách L’ intelligence des Ecritures Socéval Editions


Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân            

Hiệu đính: Phêrô Nguyễn Thế Hoằng              


Copyright @ 2017 Cursillo Sài Gòn
Ban Biên tập trang Web Cursillosaigon.org
Email: banbientap.cursillosaigon@gmail.com