Lời Chúa CN

TÌM HIỂU CỰU ƯỚC CHÚA NHẬT 02 THƯỜNG NIÊN NĂM B - 17/01/2021

BÀI ĐỌC 1 (1Sm 3, 3b-10.19)

 

"Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".

 

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

 

Sa-mu-en đang ngủ trong đền thờ ĐỨC CHÚA, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa

10 ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi như những lần trước: "Sa-mu-en! Sa-mu-en! " Sa-mu-en thưa: "Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe."

11 ĐỨC CHÚA phán với Sa-mu-en: "Này Ta sắp làm một điều tại Ít-ra-en mà bất cứ ai nghe nói cũng phải ù cả hai tai.

12 Ngày ấy, để phạt Ê-li, Ta sẽ thực hiện mọi điều Ta đã phán về nhà nó, từ đầu đến cuối.

13 Ta báo cho nó là Ta vĩnh viễn kết án nhà nó vì lỗi của nó: Nó biết các con nó nguyền rủa Thiên Chúa mà đã không sửa dạy chúng.

14 Vì vậy Ta thề với nhà Ê-li: nhà Ê-li sẽ không bao giờ được xá lỗi, dù là bằng hy lễ hay lễ phẩm."

15 Sa-mu-en cứ ngủ cho đến sáng, rồi mở các cửa của Nhà ĐỨC CHÚA. Sa-mu-en sợ không dám kể lại thị kiến cho ông Ê-li.

16 Ông Ê-li gọi Sa-mu-en và nói: "Sa-mu-en, con ơi! " Cậu thưa: "Dạ, con đây! "

17 Ông nói: "Người đã phán với con điều gì? Thầy xin con đừng giấu thầy. Xin Thiên Chúa phạt con thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu con giấu thầy một điều nào trong tất cả những lời Người đã phán với con."

18 Sa-mu-en kể lại cho ông mọi điều, không giấu ông điều nào. Ông nói: "Người là ĐỨC CHÚA. Xin Người cứ làm điều Người cho là tốt."

19 Sa-mu-en lớn lên. ĐỨC CHÚA ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu »

 

Lẽ ra nên đọc hết sách Sa-mu-en: gần như một quyển tiểu thuyết, câu chuyện thật đẹp…nhưng  lúc nào cũng thế, sách Thánh không phải chỉ để kể một giai thoại, mà phải đọc kỹ, tìm hiểu ý nghĩa từng chữ. Chắc các bạn biết chuyện về Sa-mu-en ?. Đây là như một phép lạ vì mẹ ông là một người phụ nữ không còn khả năng sinh sản. Một ngày nọ trong cơn đau khổ, bà dâng lên một lời khấn. « Nếu tôi có được đứa con, tôi sẽ dâng nó để phục vụ Chúa ». Và Sa-mu-en được sinh ra. Dĩ nhiên bà Anna đã giữ lời hứa, thì đây bà giao vị chủ tế già Ê-li, ông là người gìn giữ đền thờ tại Si-lô ( Xin đừng nhầm với tiên tri Ê-li-a về sau này).Si-lô ngày nay là một bãi tro tàn phía bắc thành Giê-ru-sa-lem, nhưng trước kia là nơi tựu họp các chi tộc Ít-ra-en trong một thời. Xin nhắc nhanh lại lịch sử thành phố này. Có bốn giai đoạn trong lịch sử hình thành dân tộc Do Thái :

1-Ra đi khỏi Ai cập với ông Mô-Sê.

2-Vào đất hứa với Giô-su-ê.

3-Chinh phục đất hứa của 12 chi tộc với các người thời ấy gọi là các Thủ Lãnh.

4-Sau cùng là sự thiết lập triều đại vua Sa-un rồi đến vua Đa-vít.

Thời kỳ ra khỏi Ai-cập chúng ta tìm thấy những điều chính yếu trong sách Xuất Hành, Sách Dân Số và Đệ Nhị Luật; sự kiện vượt sông Gio-đan và tiến vào đất hứa là trong sách Giô-su-ê. Và việc các Thủ Lãnh của 12 bộ tộc chinh phục đất hứa được kể lại trong sách Thủ Lãnh. Các Sách Thánh Kinh hình như đã theo dòng lịch sử nhưng cũng có những đoạn được thêm vào sau các biến cố, như những suy tưởng hậu nghiệm.( A posteriori).

Chính trong sách Giô-suê chúng ta được nghe kể về Si-lô lần đầu tiên. Ngay sau khi dân Do Thái tiến vào đất hứa, giữa năm 1220 -1200 trước CN, Si-lô lúc ấy là một nơi tựu tập của Mười Hai Chi Tộc chung quanh Lều Hội Ngộ chứa Hòm Bia Giao Ước. Chính lúc này là lần đầu tiên Giô-su-ê chia lãnh thổ cho Mười Hai Chi Tộc của miền đất còn gọi là Ca-na-an. Mỗi Chi Tộc từ ấy khai hoang thêm cho lãnh thổ của mình. Rõ ràng là lúc ấy Si-lô được thiết lập là nơi phụng tự cho các Chi Tộc hằng năm đến hành hương nơi đây, cũng vì thế mà bà Anna ,vào năm 1050 ( 150 năm sau) trong một chuyến hành hương đã dâng lên lời khấn hứa đó. Sứ vụ của Sa-mu-en trong bài đọc hôm nay có thể được xác định vào năm 1040, Sa-mu-en  lúc ấy còn là một thiếu niên, nhưng sau này sẽ là một trong những nhân vật nỗi bật nhất trong lịch sử Do Thái, đó là vị Tư Tế sau cùng. Cho đến nỗi sau này Giê-rê-mia so sánh với chính ông Mô-sê ( Jr 5,1)  và trong Tv 99 cũng thế

6 Mô-sê cùng A-ha-ron trong hàng tư tế Chúa, cũng như Sa-mu-en trong số người cầu khẩn Thánh Danh! Các ngài cầu khẩn CHÚA, Chúa thương đáp lại.(Tv99,6)

Thánh Kinh gồm có hai « sách Sa-mu-en » ; thật ra hai sách này không phải của ông. Hai sách được viết thật lâu sau khi ông chết. Bằng chứng là trong sách kể lại những sự kiện xảy ra sau khi ông qua đời ; sách này kể lại những biến cố khoảng giữa 1050 và 970 truớc CN. Sa-mu-en  tỏ ra vừa là một nhà lãnh đạo thiêng liêng vừa là một nhà chính trị. Ông đảm nhận nhiệm vụ tư tế, dâng lễ trong đền thờ nhưng cũng là quan toà xét xử. Sách  Sa-mu-en 1 nói : « 15 Ông Sa-mu-en làm thủ lãnh xét xử Ít-ra-en mọi ngày trong đời ông.16 Năm này qua năm nọ, ông đi một vòng Bết Ên, Ghin-gan, Mít-pa, và ông xét xử Ít-ra-en tại tất cả những nơi ấy.17 Rồi ông trở về Ra-ma vì nhà ông ở đó và ông xét xử Ít-ra-en ở đó. Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA. »( 1Sm 7 :15)

Chính ông đăng quang hai vị vua đầu tiên của Do Thái, Sa-un và Đa-vít, và ông đóng vai trò quan trọng trong triều đình: ông truyền lệnh của Thiên Chúa cho nhà vua, trong các dịp này ông được xem như một nhà Tiên Tri. Hai câu sau đây, câu trước và câu sau miêu tả sứ vụ của Sa-mu-en có nói rõ điều này :

Khởi đầu chương ba : « Thời ấy, lời ĐỨC CHÚA thì hiếm và thị kiến cũng không hay xảy ra. »(1Sm 3 :1b) 

«  Sa-mu-en lớn lên. ĐỨC CHÚA ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.20 Toàn thể Ít-ra-en, từ Đan tới Bơ-e Se-va, biết rằng ông Sa-mu-en được ĐỨC CHÚA tín nhiệm cho làm ngôn sứ của Người.21 ĐỨC CHÚA tiếp tục hiện ra ở Si-lô, vì ĐỨC CHÚA dùng lời của ĐỨC CHÚA mà tự mặc khải cho ông Sa-mu-en ở Si-lô, »(1Sm3 : 19-21)

Sở dĩ Thánh Kinh nhấn mạnh như thế vì thời ấy việc cảnh báo cho dân chúng biết, có nhiều tiên tri giả, là khẩn trương. Có người tự nhận mình là tiên tri nhưng không bao giờ được Chúa gọi. Một tiên tri thật như Sa-mu-en chỉ thông báo cho dân chúng Lời Chúa và chỉ Lời Chúa mà thôi. Có lẽ tác giả muốn cho dân chúng vững lòng tin trong thời đại khó khăn như thế nên ngài nhắc lại là Chúa đang thinh lặng, nhưng không quên chúng ta và tiếng gọi của Ngài vang dội…: Một cách nói là nếu  « Thời ấy, lời ĐỨC CHÚA thì hiếm và thị kiến cũng không hay xảy ra. »(1Sm 3 :1b), thế nhưng Chúa lại gọi một trong các đấng Tiên Tri vĩ đại nhất của Ngài.

Sau cùng dĩ nhiên, đoạn Thánh Kinh này đề nghị cho chúng ta một mẫu gương cho thời đại chúng ta. Thiên Chúa gọi ông Sa-mu-en là một khuôn mẫu đáp lại ơn gọi của Chúa, chấp nhận sứ vụ ngôn sứ. Sau đây là ba điều nên chú ý rút ra từ ơn gọi của Sa-mu-en cho mọi ơn gọi ngôn sứ :

Trước tiên về ơn gọi :  Sa-mu-en lúc được gọi còn là một trẻ con, khi Chúa gọi không cần lớn tuổi, mạnh khoẻ, không cần có quyền thế, nhiều khả năng ! Ở đây cũng là điều ngược đời : Chính là trong sự yếu đuối của con người mà Thiên Chúa được biểu lộ.  Giê-rê-mi-a cũng nói :

« Ôi! Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói! "       ( Giê-rê-mi-a 1 :6b)

Nhưng Chúa trả lời :

« Đừng nói ngươi còn trẻ!

Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;

Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói.

 Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi »( Giê-rê-mi-a 1 7-8)

Về ơn gọi, không chỉ Sa-mu-en hiểu đó là được gọi nhưng chính vị chủ tế Ê-li. ông đã biết thế nên đã giúp Sa-mu-en nhận định ý Chúa. Đây cũng đúng là một mẫu gương mà tác giả muốn nêu lên từ ông Ê-li : Vị chủ tế nép mình xuống, không cản trở điều mà ông cho là một sáng kiến của Thiên Chúa ; ông soi sáng cho đứa trẻ để trả lời với Chúa.

Và sau cùng về sự đáp lời, thật là đơn sơ : Cụm chữ « Dạ, con đây » ( 1Sm, 3 :4) được lập lại bốn lần trước khi nói « Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe »( Sm,3 10b) Đó là phản ảnh trong lòng hoàn toàn sẵn sàng, điều duy nhất mà Thiên Chúa cần để tiếp tục chương trình giao ước của Ngài với nhân loại. Câu sau đây cũng là một bài học cho mỗi chúng ta :

«  Sa-mu-en lớn lên. ĐỨC CHÚA ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu ». Trong đời sống ơn gọi của mỗi người, chúng ta vững tin rằng không lúc nào vắng sự hiện diện của Chúa và quyền năng của Ngài.

Thoạt tiên, có vẻ không có liên quan giữa bài đọc một và Phúc Ấm thánh Gio-an trong chúa nhật hôm nay : cái bẩy là ở chỗ so sánh cách Chúa gọi Sa-mu-en và các Tông Đồ. Thực ra Sa-mu-en là hình ảnh Chúa Kitô, đấng đã ra đi theo tiếng gọi của Đức Chúa Cha. Chúng ta đang ở khúc quanh của  lịch sử. Thiên Chúa đang thi hành chương trình của Ngài. Sa-mu-en đăng quan hai vua Sa-un và Đavít, từ dòng dõi này sinh ra đấng Ki-tô. Chúa luôn lấy sáng kiến trước tiên nhưng lúc nào cũng cần sự đáp ứng của con người; từ đó bộ mặt của thế giới sẽ thay đổi. Chúa gọi vì ngài cần sự cộng tác của con người cho chương trình của Ngài : Ngài không thi hành mà không có ta hay mặc cho ta. Con người cần đến Lời Chúa thì Ngài cũng cần con người. Một cách tự phát, lần lược từ Ap-ra-ham, rồi Mô-sê, đến  Sa-mu-en cũng dùng một công thức của người có đức tin, một cách làm cho chương trình của Chúa khả thi : « Lạy Chúa con đây ».

Thật vậy, gần như một điều hiển nhiên là Sa-mu-en đã trả lời vì ông đã nghe. Mà ông đã nghe vì ông ở trong đền thánh. Bà Anna mẹ ông đã đem ông tới và ông Ê-li, ông đã chăm sóc Sa-mu-en . Phải chăng chúng ta phải hy sinh, để đem những người chúng ta chăm sóc có dịp bước qua ngững cửa đền thánh để được nghe Chúa gọi ?

***

 

THÁNH VỊNH ( Tv39, 2.4ab.7-10)

                                                                                                              

"Lạy Chúa, này đây con đến thực thi ý Chúa."

 

2 Tôi đã hết lòng trông đợi CHÚA, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu.

3 Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng.

4 Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ
và tin tưởng vào CHÚA.

5 Phúc thay người đặt tin tưởng nơi CHÚA, chẳng vào hùa với bọn kiêu căng và những kẻ theo đường gian ác.

Lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ, những kỳ công Ngài đã thực hiện và những điều Ngài dự định cho chúng con: thật là nhiều vô kể! Không một ai sánh được như Ngài. Dầu con muốn loan đi kể lại, nhưng quá nhiều, đếm nổi làm sao!

7 Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi,

8 con liền thưa: "Này con xin đến! Trong sách có lời chép về con

9 rằng: con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con."

10 Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội; lạy CHÚA, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh.

 

« Tôi đã hết lòng trông đợi CHÚA, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu ».Như thường lệ, trong thánh vịnh khi một nhân vật cá nhân nói, chúng ta biết đó thật ra là một nhân vật tập thể, là dân tộc Ít-ra-en hát lên lời ca tạ ơn. Họ đã trải qua những thử thách khủng khiếp và Chúa đã giải thoát họ.

Bài Thánh Vịnh 30 (40) là một thánh vịnh tạ ơn. Bài được sáng tác với một công dụng rõ ràng trong phụng vụ: đó là bài thánh ca lúc dâng của lễ (xin đừng quên tế lễ thú vật được cử hành tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá hoàn toàn, vào năm 70 sau CN). Ngay trong lúc dâng lễ, bài hát loan báo trong tương lai việc tế lễ sẽ bị huỷ bỏ trong Giao Ước Mới: « Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi ». Các tiên tri phải dùng đến cả một phương pháp sư phạm để làm tiến hóa việc thực hành các nghi thức tế lễ. Tất cả Thánh Kinh là một trường học suốt thời gian dài dạy thực hành, và với bài thánh vịnh 39 này, chúng ta đang trong giai đoạn cuối cùng của sự biến đổi quan hệ Ít-ra-en với Thiên Chúa.

Tôi xin trở lại việc dâng của lễ ở Ít-ra-en: điều này phát triển song song với sự hiểu biết về Thiên Chúa. Thật là lô-gíc: « hiến tế » (Sacrum facere theo tiếng La tinh) có nghĩa là « làm điều thần thiêng », tiếp xúc, hay đúng hơn kết hiệp với Chúa. Tất cả dĩ nhiên tuỳ cách hiểu Thiên Chúa là như thế nào. Vì thế dần dần một khi khám phá ra Thiên Chúa như thế nào, thì việc tế lễ cũng thay đổi theo chiều hướng ấy.

Tôi bắt đầu từ đầu. Điều thứ nhất cần nhớ: không phải Ít-ra-en đã tạo ra việc tế lễ hay hiến tế (có trước nơi các dân tộc khác ở Trung đông trước xa, lúc dân tộc Ít-ra-en còn chưa xứng được gọi là một dân tộc). Nhận xét thứ hai là khi chúng ta tiềm hiểu về tế lễ ở Ít-ra-en: việc này luôn luôn có suốt lịch sử Thánh Kinh. Có nhiều loại lễ tế, nhưng tất cả đều là một phương tiện để tiếp xúc với Thiên Chúa. Nhận xét thứ ba: các cuộc tế lễ của dân Chúa chọn giống với các dân tộc lân cận… thật vậy, nhưng có một điều khác biệt, một khác biệt thật to lớn: đặc thù nơi Ít-ra-en là lễ toàn thiêu người, bị nghiêm cấm. Xưa kia thì có, thật vậy, dù có rất ít nhưng không thể chối cải là không có tế lễ người tại Ít-ra-en. Điều này không chứng minh là được Chúa cho phép và tán thành ! Trái lại lúc nào cũng là một lập trường kiên định trong Thánh Kinh: dù bất cứ thời nào lễ toàn thiêu người được xem như một điều kinh tởm, Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, thay mặt Chúa nói: « Ta không bao giờ có ý tưởng đó » và trong nhiều đoạn ngài nói: « Đó là điều Ta đã không truyền dạy, cũng chẳng bao giờ nghĩ tới » (Gm7, 31 ;19, 6 ;32, 35). Và câu truyện bất hủ cuộc tế lễ của Áp-ra-ham - dân Do Thái gọi là « Trói I-sa-ắc » - được đọc chính xác là để minh chứng rằng từ đầu Giao Ước với Thiên Chúa với dân Ngài chọn, các cuộc tế lễ người bị nghiêm cấm. Chính vì thế Áp-ra-ham được mặc khải, tế lễ không phải là giết! Ông đã hiến tế con mình nhưng ông không có giết nó.

Nghĩ cho cùng điều này thật chi lý! Thiên Chúa là Chúa sự sống: không thể nào có thể tưởng tượng muốn đến với Ngài phải đem lại sự chết ! Cấm tế lễ người là điều chính yếu được nhấn mạnh trong đạo của giao Ước. Chỉ có tế lễ súc vật được tiếp tục. Nhưng dần dần qua thời gian có một sự biến đổi thật sự, có thể nói có một sự hoán cải về tế lễ. Có hai điểm về sự hoán cải: trước hết về ý nghĩa sau đó là lễ vật hiến tế.

1/ Về ý nghĩa của hiến tế. Trong Thánh Kinh, một khi dần dần được mặc khải về Thiên Chúa, việc tế lễ cũng được tiến triển. Có thể nói: Hãy nói cho tôi bạn hiến tế như thế nào, tôi sẽ nói Chúa của bạn ra sao. Chúa chúng ta có phải là một Chúa phải thuần hóa mới được ơn từ Ngài, phải làm gì đó để xứng đáng ? Một Chúa nóng giận cần ta làm cho hạ cơn giận ? Một Thiên Chúa đòi hỏi có người chết ?... thế thì các cuộc tế lễ của ta phải làm trong chiều hướng ấy, đó là những trò ma thuật, đại loại như để mua chuộc Thiên Chúa. Hay là Chúa chúng ta là Đấng yêu thương chúng ta trước tiên, một Thiên Chúa chỉ có một kế hoạch là kế hoạch nhân từ, ân sủng của Ngài đã ban trước cho chúng ta, bởi vì Ngài chỉ lá Ân sủng, Thiên Chúa Tình Yêu và là Sự Sống ?... và như thế của lễ chúng ta cũng sẽ khác hẳn, đó là những cử chỉ yêu thương và lòng biết ơn. Những nghi thức không còn phải là những cử chỉ ma thuật mà là dấu chỉ của Giao Ước với Thiên Chúa.

Tất cả Thánh Kinh là lịch sử của hành trình học hỏi thật chậm từ hình ảnh đầu tiên của Thiên Chúa bước qua hình ảnh thứ hai của Ngài. Chính chúng ta mới cần thuần phục, cần khám phá ra tất cả là quà tặng nhưng không, cần biết nói cám ơn (Thánh Kinh gọi là lễ tế bằng môi). Tất cả phương pháp sư phạm của Thánh Kinh nhằm cho chúng ta bỏ đi cái lô-gíc « có qua có lại », tính toán, phải xứng đáng, để bước qua cái lô-gíc của ân huệ, của quà nhưng không. Và bài học ấy không bao giờ chấm dứt.

2/ Sự hoán cải ấy còn liên quan đến của tế: các ngôn sứ có một vai trò quan trọng trong hành trình học hỏi thật chậm này của dân Chúa chọn. Các ngài mặc khải cho họ dần dần của lễ Chúa thật sự muốn: thực hiện các cuộc tế lễ theo tinh thần của « sacrum facere » (làm điều thiêng liêng), thật là tốt, nhưng với điều kiện đừng nhầm lẫn những gì Chúa chờ đợi nơi ta! Có thể giống như các ngôn sứ nói với chúng ta: « Ngươi muốn vào mối tương quan với Thiên Chúa… ? Tốt đấy!... với điều kiện đừng lầm Chúa nào khác! »

Có lẽ một câu của ngôn sứ Hô-sê (thế kỷ thứ VIII) tóm lược hoàn hảo cách rao giảng của các Tri: « Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, » (Hs 6, 6). Mọi người dần dần khám phá rahy lễ thật sự, làm điều thiêng liêng, không phải là giết đi mà làm cho sống lại. Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống: giết chết đi không thể nào là phương pháp tốt nhất để đến gần Ngài! làm cho anh em ta sống, là cách tốt nhất để đến gần Ngài.

Giai đoàn cuối cùng của phương pháp sư phạm ấy của các tiên tri giới thiệu cho chúng ta thế nào là hy lễ lý tưởng: đó là phục vụ anh em ta. Chúng ta tìm thấy quan niệm này trong cả bốn bài ca người tôi trung, trong sách thứ hai của I-sa-i-a. Lý tưởng của Người Tôi Trung là hy lễ lý tưởng, « một mạng sống cho đi để đem lại sự sống » .

Bài Thánh Vịnh 39 tóm tắc tuyệt vời sự mặc khải của Thánh Kinh về hy lễ: « 7 Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con ». Từ bình minh của loài người Thiên Chúa đã « mở tai » con người để bắt đầu cuộc đối thoại tình yêu; bài thánh vịnh 39 phản ánh hành trình dài của dân Chúa chọn tập sự đi vào cuộc đối thoại ấy. Trong Giao Ước Si-nai các hy lễ súc vật tượng trưng cho lòng quyết tâm của dân chúng thuộc về Thiên Chúa; trong Giao Ước Mới sự lệ thuộc ấy hoàn toàn: cuộc đối thoại được thực hiện, hy lễ và lễ vật đều thiêng liêngnhư sau này Thánh Phao-lô nói: « Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế » (Dt 10, 5) Lúc bấy giờ bài hát mới vang lên từ lòng người: « 10 Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội »  

***

 

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut                      
Nguồn: Sách L’ intelligence des Ecritures Socéval Editions


Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân             

Hiệu đính: Phêrô Nguyễn Thế Hoằng               


Copyright @ 2017 Cursillo Sài Gòn
Ban Biên tập trang Web Cursillosaigon.org
Email: banbientap.cursillosaigon@gmail.com