Lời Chúa CN

TÌM HIỂU CỰU ƯỚC CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN NĂM A - 15/11/2020

BÀI ĐỌC 1 (Cn 31, 10-13.19-20.30-31)

 

«Nàng cần mẫn dùng tay làm việc» 

 

Trích sách Châm ngôn.

 

10 Tìm đâu ra một người vợ đảm đang?
Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.

11 Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,
chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.

12 Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc
chứ không gây tai hoạ cho chồng.

13 Nàng tìm kiếm len và vải gai,
rồi vui vẻ ra tay làm việc.

19 Nàng tra tay vào guồng kéo sợi,
và cầm chắc suốt chỉ trong tay.

20 Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ
và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.

30 Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.
Người phụ nữ kính sợ ĐỨC CHÚA
mới đáng cho người đời ca tụng.

31 Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra.
Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng
do những việc nàng làm.

 

Nếu có ai nói xấu về phụ nữ, hãy cho người ấy đọc đoạn này của sách Châm Ngôn! Tuy chỉ là một đoạn trích từ một bài thơ dài làm đoạn kết sách Châm ngôn. Điều thú vị là sách Châm ngôn bắt đầu bằng chín chương ca ngợi đức khôn ngoan và phần cuối bằng một bài thơ tôn vinh người phụ nữ đầy khôn ngoan. Vì cuối cùng đó là: Chân dung người phụ nữ, chỉ vỏn vẹn là chân dung đức khôn ngoan thể hiện thành dạng phụ nữ, hay có thể nói, chân dung một phụ nữ, nơi người ấy Chúa cho tràn đầy sự khôn ngoan; và để truyền cho chung quanh mình điều duy nhất Chúa ao ước cho nhân loại, đó là hạnh phúc.

Nếu bạn đọc trọn bài trong Thánh Kinh, bạn sẽ thấy đây là một bài thơ theo vần ABC, tức là một bài thơ có hai mươi hai câu, chữ đầu bắt đầu bằng chữ cái theo thứ tự vần ABC, theo Do Thái ngữ. Kỹ thuật này, được gặp trong nhiều Thánh vịnh, nhưng cũng có trong nhiều tài liệu khác. Về mặt kỹ thuật, nguyên tắc lúc nào cũng như nhau: mỗi câu bắt đầu bằng một chữ vần ABC theo thứ tự. Nhưng đây không phải chỉ là kỹ thuật hành văn, mà là một cách khẳng định đức tin. Người phụ nữ lý tưởng là người phụ nữ thấm mình trong đức khôn ngoan Thiên Chúa, người ấy  tỏa sáng đức khôn ngoan, và thấu hiểu từ A đến …Z.

Sách Châm ngôn không phải sách duy nhất phát biểu một cách tích cực về phái nữ. Ta có thể kể ra trong Thánh Kinh biết bao nhiêu câu tôn vinh phụ nữ, hay ít ra vài phụ nữ…Ví dụ cũng trong sách Châm ngôn này: «Có vợ đảm đang như được mang ngọc miện» (Cn12, 4); trong sách Huấn ca «Phúc thay kẻ được chung sống với người vợ thông minh» (Hc25, 8)… «Phúc thay ai cưới được vợ hiền, tuổi thọ sẽ tăng lên gấp đôi. 2 Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời.» (Hc26,1-2); «Khuôn mặt diễm kiều với thân hình cân đối ví như ngọn đèn toả sáng trên giá đền thờ.» (Hc26, 17) Và cuối cùng, cũng trong sách Huấn ca: «Cưới vợ là khởi đầu sự nghiệp, là có một trợ lực tương xứng, và một cột trụ để tựa nương. Không có hàng rào, trang trại bị cướp phá; vắng bóng đàn bà, đàn ông sẽ lang thang, rên rỉ.» (Hc36, 24-25) Và còn nói chi đến sách Diễm ca!

Cũng đừng quên trong Thánh Kinh, từ khởi đầu có một quan niệm rất độc đáo. Ví dụ như ở Ba-by-lon, người ta nghĩ rằng người phụ nữ được tạo ra sau người nam (ngụ ý nói hành tinh này có thể không cần đến phụ nữ); trái lại, bài thơ tạo dựng (Sáng thế 1) - được sáng tác do các tư tế trong lúc lưu đày Ba-by-lon - khẳng định rõ ràng «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.» (St1, 27) Và bài tường thuật trước đó (St2) miêu tả một cách rất tượng hình sự kiện sáng tạo người phụ nữ, liền ngay sau khi người đàn ông được tạo dựng. Bài tường thuật miêu tả thật tỉ mỉ như hai tạo vật ngang hàng nhau, cùng một bản thể «xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!» (St2, 23) Cả hai ngang hàng nhau, đến nỗi mang cùng tên gọi; hai chữ đàn ông, đàn bà theo Pháp ngữ không cùng một chữ gốc, nhưng theo tiếng Do Thái: Ish là nam, Ishah là nữ, điều này nói lên sự giống nhau nhưng cũng nói lên bản sắc của mỗi người.

Tài liệu còn đi xa hơn thế nữa, nói phụ nữ là món quà ban cho người nam sống hạnh phúc: «ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt” (St2, 18a) (Nên hiểu người đàn ông không hạnh phúc nếu sống độc thân). «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.» (St2, 18b) và sách Do Thái còn nói rõ «kẻ ấy như người đối diện với nó»; đối diện ở đây là một người ngang hàng có thể đàm thoại với nó; trong một cuộc đối mặt, chia sẻ cho nhau, khám phá nhau trong ánh mắt kẻ đối diện.

Đoạn sau của tài liệu Thánh Kinh, kể lại sự chia cách xé lòng giữa những quan hệ, lẽ ra là những quan hệ đối thoại tin tưởng nhau: Sự ngờ vực giữa nhân loại và đấng tạo dựng, dần dần xuất hiện trong mối quan hệ. Mối quan hệ cũng bị méo mó đi giữa người đàn ông và người đàn bà.

Kết cuộc, tất cả không dựa trên đối thoại, nhưng dựa trên quyền lực; một bên là quyền lực của sự quyến rũ, một bên là uy quyền «Với người đàn bà, Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."»(St3, 16) Trong lúc nhà thần học Thánh Kinh viết bài này vào năm 1000 trước CN, đã có hằng ngàn năm trải nghiệm này được xác minh hằng ngày.

Sách Châm ngôn còn mơ đến một cặp vợ chồng lý tưởng: Nơi đây người đàn ông hoàn toàn dựa vào người bạn đời: «Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng, chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc. Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc chứ không gây tai hoạ cho chồng.» (Cn31, 11-12) Cuối cùng, điều đáng ngạc nhiên là người phụ nữ trong sách Châm ngôn không làm chi lạ thường! Các sinh hoạt của những phụ nữ được miêu tả trong sách này, rất giống những gì chúng ta nghĩ về những phụ nữ nội trợ (và chúng ta biết, đó không phải là những gì hấp dẫn chúng ta ngày nay). Chúng ta nên đặt vào bối cảnh thời ấy. Tác giả không thiên vị người phụ nữ lo việc nội trợ hay không, và hơn nữa, khi nói «phụ nữ nội trợ» là không thể nói phụ nữ bị che mặt, bị cấm mọi sinh hoạt xã hội. Có nhiều câu khác trong bài thơ này, nhiều đoạn miêu tả vai trò xã hội các phụ nữ trong thành, nhiều sinh hoạt thương mại và việc từ thiện.

Nói tóm lại, tác giả muốn làm nổi bật hai điều mà cũng là hai diễm phúc cho người phụ nữ: «Người phụ nữ kính sợ ĐỨC CHÚA mới đáng cho người đời ca tụng.» (Cn31, 30) «Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra. Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng do những việc nàng làm.» (Cn31, 31)

***

 

THÁNH VỊNH (Tv 127)

 

Đáp: « Phúc thay những bạn nào kính sợ Thiên Chúa » 

 

1 Ca khúc lên Đền.
Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA,
ăn ở theo đường lối của Người.

2 Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,
bạn quả là lắm phúc nhiều may.

3 Hiền thê bạn trong cửa trong nhà
khác nào cây nho đầy hoa trái;
và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn,
xúm xít tại bàn ăn.

4 Đó chính là phúc lộc CHÚA dành cho kẻ kính sợ Người.

5 Xin CHÚA từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc.
Ước chi trong suốt cả cuộc đời
bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,

 

Bài Thánh vịnh này là một trong những Thánh vịnh ngắn nhất sách Thánh vịnh, nhưng nội dung không kém quan trọng, vì Bài nói về một điều đáng kể nhất: Hạnh phúc. Không thể nào nói cho đủ cho vừa, Chúa tạo chúng ta để chúng ta hạnh phúc; điều hiển nhiên này trải dài xuyên suốt Thánh Kinh, đây là điều táo bạo đối với những dân tộc láng giềng. Từ xưa, ông Mô-sê cũng đã hiểu điều ấy, vì thế khi muốn thuyết phục người em vợ đi theo ông, để dẫn đường qua sa mạc Si-nai, ông hứa với nhạc phụ (nguyên văn Pháp ngữ nói người em vợ, không trùng hợp với Thánh Kinh VN): «Chúng tôi đang trên đường đi tới nơi mà ĐỨC CHÚA đã hứa: "Ta sẽ ban đất ấy cho các ngươi. Mời cha đi với chúng tôi, chúng tôi sẽ trọng đãi cha, vì ĐỨC CHÚA đã hứa ban phúc lộc cho Ít-ra-en» (Ds10, 29). Bài Thánh vịnh 35 cũng đặt câu rất tự tin này từ miệng vua Đa-vít: «ĐỨC CHÚA vĩ đại thay! Người những muốn kẻ tôi trung được an lành.» (Tv35,  27) Nhưng nghĩ cho cùng, đối với ông Áp-ra-ham cũng thế. Từ ngữ hạnh phúc không  rõ ràng trong lời Chúa, hứa cho ông Áp-ra-ham. Nhưng nội dung chứa đựng chính xác sự hạnh phúc, đáng mọi người ao ước nhất thời ấy: Một dòng dõi đông đúc và thịnh vượng. Hơn nữa chữ «chúc phúc» đồng nghĩa với hạnh phúc: «Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi» (St12, 3) Điều này, trước tiên có nghĩa là đối với khắp các dân tộc trên thế gian, không có lời nguyện ước nào lớn hơn lời chúc nhà ngươi thành công. Họ sẽ nói với nhau: «Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.» (St12, 2b); còn hơn thế nữa, điều này có nghĩa «Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc» (St, 3) Ai có thể mơ tốt đẹp hơn? Thế nhưng, chính Chúa hứa điều ấy. Ngay buổi gặp gỡ ban đầu, việc này biểu lộ rất rõ ràng nhiều điều quan trọng.

Thật vậy, sau này khi suy gẫm về mầu nhiệm Tạo dựng, ta nhận ra dự án Thiên Chúa chỉ gồm điều tốt lành: Sách Sáng Thế kể rằng, qua ngày thứ Sáu rảo mắt nhìn công trình tạo dựng Thiên Chúa «thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ Sáu.» Trong câu này, tiếng Do Thái gợi lên rõ ràng ý tưởng hạnh phúc.

Suốt lịch sử Ít-ra-en, ý tưởng Chúa muốn con cái Ngài hạnh phúc, hướng mọi lời nói và sáng kiến Thiên Chúa: Ví dụ như những lời răn. Sách Đệ Nhị Luật tóm lại một cách tuyệt vời tất cả đức tin Ít-ra-en dựa trên nền tảng Lề Luật, không có mục đích gì khác hơn, là mang lại hạnh phúc và sự sống lâu dài của cả dân tộc: «Anh (em) phải giữ các thánh chỉ và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền cho anh (em); như vậy anh (em) và con cháu anh (em) sau này sẽ được hạnh phúc,» (Đnl4, 40); «Phải chi chúng luôn luôn có một tấm lòng như thế để kính sợ Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta mọi ngày, như vậy chúng và con cái chúng sẽ được hạnh phúc mãi mãi!» (Đnl5, 29) Và bài tuyên xưng đức tin (Kinh Shema Ít-ra-en) có lời khuyên sau đây trong phần đầu: «Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy anh (em) sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của cha ông anh (em), đã phán với anh (em)» (Đnl 6, 3)

Bài Thánh vịnh chúng ta đọc hôm nay như một tiếng vang: «Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA, ăn ở theo đường lối của Người.» (c1) Kính sợ Thiên Chúa, chính xác có nghĩa là “đi theo con đường của Ngài”, vâng theo các điều răn được ban cho những ai thực hành, được hạnh phúc. Các bạn hẳn biết những bài Thánh vịnh theo vần A B C, quả quyết mạnh dạn rằng từ A đến Z Chúa làm tất cả hạnh phúc cho chúng ta, đặc biệt là trao ban cho chúng ta Lề Luật. (Về kỹ thuật thơ theo vần ABC, xin xem bài suy niệm cho Bài đọc 1)

Bài Thánh vịnh của chúng ta không số câu, để dùng hết các chữ cái cho đầu các câu, nhưng ý nghĩa các từ trong bài rất phong phú! Những chữ như «hạnh phúc», «chúc phúc» được lặp đi lặp lại nhiều lần; còn các hình ảnh gợi lên những gì ta có thể tưởng tượng tốt đẹp nhất: Nhu cầu hằng ngày dùng đủ, bình an trong thành phố, bình an trong gia thất, chung quanh một gia đình đầm ấm, lời hứa cho có nhiều con cháu. «Xin CHÚA từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,» (c5)

Điều rút ra từ đấy, là Chúa quan tâm đến đời sống thường nhật của chúng ta: Chính trong những thực tế rất cụ thể mới đo được hạnh phúc của chúng ta. Cựu Ước cũng đã nói rất rõ ràng, không nên tìm Chúa trong các bức tường nhà thờ, nhưng trong đời sống thường nhật của chúng ta. Thế nhưng, chúng ta còn có thể tự do tránh xa con đường của Chúa (nên hiểu là vi phạm các giới răn), tất nhiên gây đau khổ cho chúng ta. Có lẽ, không phải ngẫu nhiên bài Thánh vịnh nói «Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may.» (c2) Như thế là trái ngược lại với những lời nói cho A-đam lúc sa ngã – «đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra.» (St3, 17c); trong lúc đó đời sống gia đình, vườn địa đàng được đổi sang nơi tranh cãi nhau cho những kẻ chọn lầm đường: «Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.» (St3, 16)  

Sách Cách Ngôn khen ngợi «người phụ nữ kính sợ Thiên Chúa» (Cn31, 30a) chỉ có «nàng mới đáng cho người đời ca tụng” (Cn31, 30b) và bài Thánh vịnh hứa hạnh phúc cho nàng: «Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn.» (c3) Trải dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, quan niệm về hạnh phúc của chúng ta có thể thay đổi, nhưng chỉ có một điều chủ yếu có giá trị mà thôi: Không bao giờ quên cùng đích của Thiên Chúa là thấy con cái Mình hạnh phúc.

***

 

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut                       
Nguồn: Sách L’ intelligence des Ecritures Socéval Editions


Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân              

Hiệu đính: Phêrô Nguyễn Thế Hoằng                


Copyright @ 2017 Cursillo Sài Gòn
Ban Biên tập trang Web Cursillosaigon.org
Email: banbientap.cursillosaigon@gmail.com