Lời Chúa CN

TÌM HIỂU CỰU ƯỚC CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN NĂM A - 25/10/2020

BÀI ĐỌC 1 (Xh 22, 20-26)

 

"Nếu các ngươi hà hiếp các cô nghi quả phụ, Ta sẽ nổi giận các ngươi."

 

Trích sách Xuất Hành.

 

20 Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập.

21 Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp.

22 Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu.

23 Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi: thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút.

24 Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vay tiền, thì ngươi không được xử với nó như chủ nợ, không được bắt nó trả lãi.

25 Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn.

26 Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân; nó sẽ lấy gì mà ngủ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ.

 

Điều nên lưu ý đầu tiên : không nên tin rằng ông Mô-sê truyền lại cho dân chúng cùng một lượt toàn bộ luật sau này được góp lại trong sách Xuất Hành. Trải dài nhiều thế kỷ và theo diễn tiến xã hội Pa-lét-tin, các điều luật của Ít-re-en đã được cập nhật, cũng như bộ luật dân sự hay hình sự chúng ta cũng được thường xuyên thay đổi, bổ sung như vậy nhưng các thay đổi chỉ trong một bộ văn kiện và vẫn giữ nguyên tên. Nhưng những luật mới phản ảnh một văn cảnh mới, lúc luật ấy được ban hành ; những luật này đáp ứng những vấn đề mới, những hình thức mới của tội phạm : tất cả các luật lệ đều luôn luôn liên quan đến hoàn cảnh nhất thời !

Hãy lấy một ví dụ. hãy tưởng tượng bạn đang đi trong hành lang một triển lãm tranh và mắt bạn dừng lại bức tranh vẻ cảnh Truyền Tin. Nếu Đức Trinh Nữ mặc y phục thời Canh Tân, bạn biết ngay người họa sĩ không sống thời Chúa Giê-su, vào thế kỷ thứ nhất vùng Pa-lét-tin …Cũng tương tự như thế, các điều luật được thảo ra thời gian lúc mới về vùng Pa-lét-tin phản ảnh xã hội đương thời chứ không như bối cảnh xã hội thời Xuất Hành. Ví dụ như một điều luật cho trường hợp một : « kẻ trộm bị bắt quả tang đang lúc đào ngạch »(Xh22, 1) chắc chắn không cùng thời với lúc còn sống bằng lều trong sa mạc Si-nai ! Trường hợp bài đọc trong Thánh Lễ chúa nhật hôm nay cũng thế. Ví dụ như điều về người ngoại kiều, sở dĩ bài quan tâm về số phận người ngọai kiều vì dân Ít-re-en đến vùng Pa-lét-tin, họ cho là đất ấy của họ, họ xem ai đến sau là những ngọai kiều. Tất cả những điều kiện ấy không trùng hợp trong sa mạc Si-nai thời Xuất Hành.  Một dân tộc sống về chăn nuôi du cư thì khác, một dân tộc đã định cư thì khác.

Thật ra, tất cả các luật lệ do ông Mô-sê ban hành và các người thế vị ông sau này vào những thời điểm khác nhau, trong điều kiện sống khác nhau, tất cả đều được gom góp lại điều này đến điều khác trong Thập Giới ( hay Mười Lời trong sa mạc Sinai) bởi vì các luật ấy là phần tiếp theo lô-gíc xuyên suốt các thế kỷ và sự tiến hóa của lịch sử Ít-re-en .

Điều đáng chú ý thứ hai : Ít-ra-en  không phải là dân tộc đầu tiên và cũng không phải dân tộc duy nhất ban bố đạo luật. Ở Trung đông người ta tìm thấy những bộ luật lâu đời hơn thế nữa : ví dụ như ở Ua, quê quán ông Áp-ra-ham, có một bộ luật từ năm 2050 trước CN ; và bộ luật Hammourabi ( hiện được giữ tại bảo tàng viện Louvre, Paris), có từ khoảng năm 1750 trước CN. Những bộ luật ấy có nhiều điểm giống nhau, ngay cả cách phát biểu gọi là thần học nghi nghĩa ( Acuistique, ghi chú ND : một cách biện luận quá tinh tế ) : ví dụ như : « Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vay tiền; Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm…»  (c24.25) Nhưng điều thú vị cho chúng ta là những gì Lề Luật Ít-ra-en  mang lại cho các dân tộc lân cận.

Trong tất cả các nền văn minh, bộ luật nhằm bảo vệ kẻ yếu ; như thế không có gì lạ bộ luật Ít-re-en, như các bộ luật khác, bảo vệ cô nhi quả phụ, người ngoại kiều, kẻ vay nợ. Nhưng điều mới lạ là nền tảng của bộ Luật. Nền tảng của bộ luật Ít-re-en  dựa vào cuộc giải phóng khỏi Ai-cập, hay đúng hơn là hai trải nghiệm, thời nô lệ bên Ai-cập và sự cứu độ của Thiên Chúa. Và bởi  sự mặc khải của Chúa đã nghe lời kêu than của những kẻ bị hạ nhục, trả lại cho họ tự do và nhân phẩm, rất lô-gíc Ngài sẽ tiếp tục qua bộ luật bảo vệ những người bị hạ nhục. Vì thế tất cả các lề luật trong Thánh Kinh đều rải rác có những lời nhắc nhở : nhắc nhở những lúc đau khổ trong cảnh lưu đày, bị nhục mạ…nhắc nhở kỳ công Thiên Chúa cứu độ dân Ngài… Ví dụ như những từ ngữ đầu tiên sách Thập Giới không phải là nột điều răn mà một lời nhắc nhở : « Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ» (Xh20, 2), hay nữa là : « Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta» (Xh19, 4).

Sở dĩ Chúa cứu độ dân Ngài là vì Chúa đã nghe tiếng rên siết của những kẻ đau khổ : « Sau những năm dài ấy, vua Ai-cập qua đời. Con cái Ít-ra-en rên siết trong cảnh nô lệ. Họ ta thán, và tiếng họ kêu từ cảnh nô lệ đã thấu tới Thiên Chúa.24 Thiên Chúa đã nghe tiếng họ than van và Thiên Chúa nhớ lại giao ước của Người với các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp» (Xh2, 23-24) ; trong giai đoạn bụi gai bốc cháy cũng như thế :« ĐỨC CHÚA phán: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng.8 Ta xuống giải thoát chúng» (Xh3, 7, 8a)  

Đấy là nền tảng tất cả luật Ít-re-en  : Thiên Chúa nghe lời kêu than của kẻ khổ cùng, thấu biết những đau khổ của họ và vì thế bảo vệ họ. « vì Ta vốn nhân từ.», đấy là câu cuối của bài hôm nay, theo cách dịch của Pháp ngữ ( Compatissant) có nghĩa tuyệt vời, «  cùng khổ ».   

Đối với dân tộc ấy đã trải nghiệm thế nào là bị hạ nhục, không khó gì nay đặt mình vào vai trò người bị nhục mạ : « Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập» (c20), đấy là trong bài hôm nay. Sau đó vài câu, đề tài ấy được lặp lại : « Người ngoại kiều, các ngươi không được áp bức; chính các ngươi đã biết thân phận của người ngoại kiều, vì các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập.» (Xh23, 9). Nên hiểu : các ngươi không được áp bức một ai vì các người từng biết thế nào là bị áp bức. Không phải lý luận từ những tình cảm tốt đẹp mà là vấn đề trải nghiệm, đại loại như nói « bạn biết thế nào rồi, hãy đặt mình vào địa vị họ »

Nhân đây xin lưu ý một xác định : người ngoại kiều ở đây là những người cư ngụ lâu dài trong xứ, sinh sống ở đấy, không phải những người ngoại kiều chỉ đi qua, những du khách, được hưởng ân huệ hiếu khách truyền thống Trung Đông.   

Vài điều răn trong bài hôm nay nói lên cùng một lô-gíc ấy: hãy đứng vào địa vị, người nghèo, người mang nợ, cô nhi, quả phụ ; đừng ngược đãi họ vì Thiên Chúa nghe lời họ kêu than. Chúng ta còn đang trong giai đoạn đầu của mặc khải Thiên Chúa (ngay các bài này được viết sau ông Mô-sê) nhưng được biết Chúa quan tâm đến những đau khổ loài người, và Ngài đến cứu độ kẻ nghèo hèn và bị hạ nhục.

Nhưng than ôi, lúc bấy giờ còn phải hăm dọa để lề luật được tuân giữ : « Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi» (c23). Một ngày kia sẽ đến, chúng ta đều biết, con người dần dần được Chúa dạy, không còn cần lời hăm đe, vì con người biết thấy nơi tha nhân là người anh em.

***

 

THÁNH VỊNH (Tv 17, 2-4. 20.47.51ab)

 

Đáp ca: "Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa."

 

2 Con yêu mến Ngài, lạy CHÚA là sức mạnh của con;

3 lạy CHÚA là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con;
lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,
là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.

4 Tôi kêu cầu CHÚA là Đấng xứng muôn lời ngợi khen,
và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.

47 ĐỨC CHÚA vạn vạn tuế!
Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.
Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi,

51Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng Người đã xức dầu tấn phong.

 

Đọc bài thánh vịnh này, chúng ta có thể nghĩ « lúc nào cũng có bấy nhiêu chuyện lặp đi lặp lại» ; cá nhân tín hữu, vua Đa-vít hay cả toàn dân đều có thể nói lên sự thật qua các lời này : « vì yêu thương tôi, nên Người giải thoát.»(c20), đấy là nội dung đức tin : lòng xác tín Chúa yêu thương mỗi người một cách cá biệt và gọi mình sống tự do ; không thể có đức tin thực sự khi nào chưa có trải nghiệm qua cách này hay cách khác sự hiện diện của Chúa, ít nữa đủ để cậy trông vào sự hiện diện đó cho tương lai.  

Vua Đa-vít đã sống trải nghiệm ấy một cách thực tế. Bị vua Sa-un đánh đuổi vì xem là một đối thủ đáng ngại, Đa-vít được giải thoát nhờ một phép lạ thật sự. Và sách thứ hai Tiên tri Sa-mu-en nói rằng vua Đa-vít đã hát bài thánh vịnh này để tạ ơn Chúa đã giải thoát mình khỏi tay nghịch  thù, trước hết là khỏi Sa-un ; nếu bạn hiếu kỳ đọc sách Tiên tri Sa-mu-en vào chương 22 các bạn sẽ thấy rất giống gần như trọn vẹn bài thánh vịnh 17 (18) này. Điều này không chứng minh cho lịch sử rằng vua Đa-vít đã nói lên nguyên văn bài này, nhưng tác giả sách Sa-mu-en nhận thấy nội dung bài thánh vịnh đặc biệt thích hợp cho vua Đa-vít.

Câu truyện này được kể lại trong hai sách Tiên tri Sa-mu-en ; vào thời ấy, vua chính thức It-ra-en, được Thiên Chúa chọn và xức dầu phong vương không phải là vua Đa-vít ( chưa phải lúc ấy), nhưng là vua Sa-un, vua đầu tiên It-ra-en. Nhưng vương triều của ngài đã bắt đầu và kết thúc rất tồi tệ. Thay vì nghe lời ngôn sứ, ông cố tình bất tuân ngôn sứ và Sa-mu-en không tán thành ông nữa. Lúc ấy ngài chọn Đa-vít, dù còn rất trẻ, sau này nối ngôi Sa-un. Sa-un vẫn giữ tước vương cho đến lúc chết, nhưng phải chịu cảnh thấy đối thủ của mình là Đa-vít lớn lên trong cung điện, càng ngày càng được lòng dân và thành công trong mọi sự. Vì thế lòng hận thù càng ngày càng gay gắt nổi lên trong lòng Sa-un ; ông cố gắng loại Đa-vít nhưng không thành công. Có một lần ông đuổi theo Đa-vít, Đa-vít phải tìm nơi trú ẩn trong một vách núi, vì thế có câu: « lạy CHÚA là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con;»(c3) .

Chúng ta cũng được biết vương triều vua Đa-vít là một loạt từng tự chiến tranh và thắng trận, và vì lẽ đó ngài tạ ơn, biết rằng chỉ nhờ Chúa và chỉ từ Chúa mà thôi ngài mới được những hồng ân ấy : « Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,…Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ ; Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua »(c3. 51) Ở đây cũng nhắc chúng ta đến giai đoạn tranh đấu giữa Đa-vít và Gô-li-át, người Phi-li-tinh : Đa-vít trong tay chỉ vỏn vẹn cây phóng đá,  đương đầu với tên khổng lồ mang gươm mang giáo, cầm lao ; phật ý vì thấy đối thủ ăn mặc trang bị lố lăng đơn sơ, Go-li-át nói : « Đến đây với tao, tao sẽ đem thịt mày làm mồi cho chim trời và dã thú.» (1Sm117, 44)  và Đa-vít đáp lại : « Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao. Còn tao, tao đến với mày nhân danh ĐỨC CHÚA các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Ít-ra-en mà mày thách thức.»  (1Sm17, 45) 

Trong lúc ấy toàn dân tộc It-ra-en, qua trải nghiệm, ở đây cũng rất thực tế cảm nghiệm sâu sắc từng câu bài thánh vịnh ; bài này dài hơn nhiều phần phụng vụ chọn cho chúa nhật thứ XXX thường niên hôm nay, nhưng cũng đủ nói lên như tiếng vang trải nghiệm vô cùng phong phú của It-ra-en : « CHÚA là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con ;  vì yêu thương tôi nên Người giải thoát; ĐỨC CHÚA vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.» (c3 ;20 ;47).

Trước tiên, trước thời vua Đa-vít rất lâu, cũng có một trải niệm về núi đá là nơi trú ẩn ; sách các Thủ lãnh cũng cho vài ví dụ. Nói rằng Chúa là núi đá cho chúng ta trước tiên là để xác quyết Ngài là ơn cứu độ ta, nơi ta nương tựa an toàn nhất. Ví dụ như trong sách Đệ nhị Luật, bài ca bất hủ của ông Mô-sê về núi đá It-ra-en : «  Này tôi xưng tụng thánh danh ĐỨC CHÚA, trời đất hãy suy tôn Thiên Chúa ta thờ! Người là Núi Đá: sự nghiệp Người hoàn hảo, vì mọi đường lối Người đều thẳng ngay. Chúa tín thành, không mảy may gian dối, Người quả là chính trực công minh.»(Đnl32, 3-4) Thời ấy người ta tin rằng mỗi dân tộc có một chúa bảo trợ và chấp nhận rằng những dân tộc khác cũng có núi đá của họ nhưng không thể nào bằng núi đá It-ra-en ; trong bài ca ấy chúng ta có thể đọc câu tuyệt vời này : « Vì núi đá của chúng không phải như Núi Đá của chúng ta.»(Đnl32, 31)

Ông Mô-sê khi nói đến núi đá, ông hẳn còn cho nó một ý nghĩa khác nữa ; đây 1à một tiếng vang cuộc giải phóng ra khỏi Ai-cập ( « vì yêu thương tôi nên Người giải thoát» c20) và cuộc Xuất hành qua sa mạc Si-nai nữa. Suốt cuộc lữ hành dài đăng đảng khó nhọc trong nóng bức, đói khát, sống giữa rắn và bò cạp, mặt trời đốt cháy da, sự hiện diện của Chúa, sự ân cần chăm sóc của Chúa là sự cứu trợ cho dân chúng ; chăm sóc ân cần đến nổi làm cho nước chảy ra từ vách đá : đó là giai đoạn bất hủ Ma-xa và Mơ-ri-vơ ; nơi ấy dân khát gần đến chết và họ kết án cho ông Mô- sê đem dân tộc họ đến chỗ chết…Lịch sử cuộc nỗi loạn ấy lúc nào cũng ám ảnh kí ức dân It-ra-en, vì đó là một ví dụ tiêu biểu cho lòng ngờ vực người tín hữu ; nhưng ở đây bài này không gợi lại sự nổi loạn, nhưng lòng nhân từ Thiên Chúa đáp lại sự nổi loạn bằng một ân sủng vĩ đại hơn :  « Ở đó, dân khát nước nên đã kêu trách ông Mô-sê rằng: "Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì? Có phải là để cho (chúng) tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không? "4 Ông Mô-sê kêu lên cùng ĐỨC CHÚA: "Con phải làm gì cho dân này bây giờ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con! "5 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi.6 Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống." Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en.»(Xh17, 3-6)

Mỗi lần dân It-ra-en hát bài thánh vịnh này, họ gợi lại sự hiện diện trung thành lúc nào cũng ở cạnh bên họ Đấng mang Tên là : « Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.» (Mt1, 23). Nhưng lời nhắc nhở này là nguồn họ cậy trông, vì cũng như vua Đa-vít dân tộc này chờ đợi những lời hứa của Thiên Chúa tín trung thực hiện, đó là Đấng Mê-si-a đến cứu độ vĩnh viễn cả nhân loại : « 47 ĐỨC CHÚA vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi, 51 Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng Người đã xức dầu tấn phong, »(c47.51)

***

 

Tác giả: Marie-Noëlle Thabut                       
Nguồn: Sách L’ intelligence des Ecritures Socéval Editions


Dịch giả: E. Máccô Lương Huỳnh Ngân              

Hiệu đính: Phêrô Nguyễn Thế Hoằng                 


Copyright @ 2017 Cursillo Sài Gòn
Ban Biên tập trang Web Cursillosaigon.org
Email: banbientap.cursillosaigon@gmail.com