Lời Chúa CN

THÁNH VỊNH CN XV THƯỜNG NIÊN NĂM B (Tv94, 9-14) 15/07/2018

"Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con" 

 

9 Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,
điều CHÚA phán là lời chúc bình an
cho dân Người, cho kẻ trung hiếu
và những ai hướng lòng trí về Người.

10 Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa,
để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.

11 Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hoà bình công lý đã giao duyên.

12 Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao.

13 Vâng, chính CHÚA sẽ tặng ban phúc lộc
và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.

14 Công lý đi tiền phong trước mặt Người,
mở lối cho Người đặt bước chân.

 

Thánh vịnh 84 (85) được viết sau khi dân It-ra-en lưu đày trở về, ngày về sau bao nhiêu năm chờ đợi. Lẽ ra làm lại cuộc đời phải tuyệt vời lắm chứ: hồi hương cũng như là một cuộc đời mới…Thiên Chúa xoá mọi quá khứ, mọi sự bắt đầu lại… Nhưng thực tế không mấy tốt đẹp.

Trước hết cho dù có lấy những « quyết tâm mới », mơ rằng khởi sự từ số không ( chúng ta ai cũng có những trải nghiệm như thế), và kết cuộc cũng thường như nhau…, và rất đáng thất vọng. Không sao tránh được những bất trung Lề Luật, những bất trung với Giao ước một lần nữa trở lại. Kế đến, cũng phải nói rằng cuộc lưu đày sang Ba-by-lon kéo dài gần 50 năm ( từ 587 đến 538 trước CN) và chỉ gồm đa số những người trưởng thành đã sống xót sau một cuộc hành trình khổ sai xuyên qua sa mạc chia cách Ba-by-lon và It-ra-en… Điều này có nghĩa là 50 năm sau, lúc trở về, phần đông đều đã chết, những kẻ trở về được, hoặc là những người lúc năm 587 hãy còn trẻ nay những kỷ niệm về quê hương đã quá xa, hoặc những thế hệ sanh trưởng ở Ba-by-lon. Thế thì đa số thuộc về một thế hệ mới lên đường về quê hương. Điều này có nghĩa là họ không phải là những người sốt sắng cho lắm, cũng không phải những người có đức tin, hay được rành giáo lý. Các cha mẹ họ thì rất mong muốn truyền lại đức tin của ông bà. Họ đã rất nóng lòng được quay về quê hương dấu yêu của tổ tiên, nóng lòng muốn xây lại đền thờ và bắt đầu một cuộc đời mới. Thế nhưng lúc về đến xứ mình, họ là những người xa lạ, và dĩ nhiên không được đón tiếp như họ ao ước. Vì dụ như việc xây lại đền thờ họ gặp phải những phe chống đối kịch liệt.

Trong bài thánh vịnh hôm nay chúng ta cảm nhận những tình cảm lẫn lộn ấy. Việc ra khỏi kiếp lưu đày là một điều hiển nhiên rồi : « 2 Lạy CHÚA, Ngài đã tỏ lòng thương thánh địa, tù nhân nhà Gia-cóp, Ngài dẫn đưa về.3 Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ, mọi lỗi lầm, cũng phủ lấp đi.4 Ngài dẹp trận lôi đình và nguôi cơn thịnh nộ » ( c2-4). Và như thế mọi việc vẫn còn không ổn, họ tự hỏi có phải Thiên Chúa chưa « nguôi cơn thịnh nộ » :« 6 Phải chăng Ngài giận mãi không thôi, đời lại đời cứ nuôi cơn thịnh nộ? » ( Câu 6) Vì thế họ van xin : « 8 Lạy CHÚA, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con »  ( c8) Và họ xin ơn hoán cải vĩnh viễn : « 5 Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng con về, đừng hận chúng con nữa » ( c5)

Tất cả phần đầu bài thánh vịnh xoay quanh chữ « trở về ». Trở về xứ thì nay đã có, những « trở về » với Thiên Chúa, ơn « hoán cải » thì có lẽ khó hơn !: « 9 Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán»,lắng nghe, trong thánh Kinh có nghĩa là thái độ dứt khoác của kẻ tin, quay về Thiên Chúa., sẵn sàng tuân theo các giới răn, vì họ đã xác tín rằng đó là con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc mà Thiên Chúa đã vạch ra cho họ. : « điều CHÚA phán là lời chúc bình an cho dân Người » .

Phần cuối bài thánh vịnh là một bài ca tuyệt vời về lòng cậy trông, có thể hiểu như « bài ca của lòng cậy trông trở lại », xác tín rằng kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch hoà bình cho muôn dân đang trên đường tiến tới không có gì có thể ngăn cản được đến lúc chu toàn.

« vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta ( c10) ;   14 Công lý đi tiền phong trước mặt Người,  mở lối cho Người đặt bước chân.( c 14); 11 Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên ».

Tác giả dùng thì hiện tại trong bài, không phải bị lầm đâu, cũng không tưởng mình ở trong mơ đâu ! Nhưng cảm thấy trước tương lai mà thôi ! Tác giả thấy trước ngày sắp đến, ngày mà sau những cuộc tranh đấu và những đau khổ vô ích, những hận thù ngu si, con người trở lại sống tình anh em với nhau. !

Đối với người Ki-tô, ngày ấy là đây rồi, ngày ấy đã đến, ngày Chúa Giê-su Ki-tô đã trổi dậy từ cõi chết, bấy giờ họ hát bài thánh vịnh này. Dĩ nhiên đối với họ bài này mang một ý nghĩa đặc biệt. Câu số 10 nói : «  10 Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa », và chính vì tên « Giê-su » có nghĩa là « Chúa cứu độ » còn câu 12 nói :  «  12Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp » còn Chúa Giê-su nói « Ta là sự thật ». Chúng ta đừng quên chữ « mọc lên » được dùng cho tên đấng Cứu Độ trong Cựu Ước. Thánh vịnh nói « 12 Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp » còn thánh Gio-an trong Tin Mừng ngài viết : « 14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật » ( Ga1,4). Thánh vịnh nói : « 9 Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán » thánh Gio-an gọi là Lời nói,  Ngôi Lời của Thiên Chúa. Thánh vịnh nói : « …9 điều CHÚA phán là lời chúc bình an cho dân Người ». Sau này mỗi lần Chúa Giê-su gặp các môn đệ, sau khi Phục Sinh, câu đầu Ngài nói là « Bình an cho anh em ». Điều chắc chắn rằng tất cả Thánh Kinh đều nói đến sự bình an, một sự chinh phục có vẻ không bao giờ nhân loại đạt được, mặc dù đó là tương lai của chúng ta, chỉ trừ khi có một điều kiện, điều kiện ấy đó là món quà của Thiên Chúa.

 

***

Tác giả: bà Marie-Noëlle Thabut
Nguồn: 
http://www.eglise.catholique.fr/
Dịch giả: Ernest Marco Huỳnh Lương


Copyright @ 2017 Cursillo Sài Gòn
Ban Biên tập trang Web Cursillosaigon.org
Email: banbientap.cursillosaigon@gmail.com